THẾ NÀO LÀ TU TẬP PHẬT GIÁO (P1)

13/08/2019

THẾ NÀO LÀ TU TẬP PHẬT GIÁO 

Hoang Phong

 

Kinh sách và Đạo Pháp của Phật không phải giúp để góp nhặt sự hiểu biết mà phải dùng để tự biến cải lấy chính ta. Ngón tay tượng trưng cho kinh sách, cho lời giảng của Phật, mặt trăng tượng trưng cho chân lý, tức kinh nghiệm trực tiếp và sự thực hiệnGiác ngộ. Nếu ta lầm lẫn ngón tay với mặt trăng, ta sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy mặt trăngCũng thế, nếu đến chùa ta chỉ thấy các Thầy nhưng không thấy Phật, hoặc nhận ra Phật mà không nghe thấy những lời giảng của Phật, hoặc chỉ nghe thấy những lời giảng của Phật mà không thấy ngược về những hành vi và tâm ý của chính ta để tự xét đoán và tu tập, cũng giống như ta chỉ thấy ngón tay mà thôi.

Tất cả những gì ta thấy ở chùa, từ chuông mõ cho đến nghi lễlắm khi chỉ là hình thức và màu mè. Lời giảng của các vị Thầy có thể chỉ là một vài câu lỏm bỏm trong kinh sách đem ra tán rộng. Nhìn vào kinh sách thì như rừng, có những bộ kinh hàng trăm ngàn trang. Nhìn vào các tông phái và học pháithì không biết đâu để phân biệt. Vậy Đạo Phật thật ra là gì ? Đi tìm Đạo Pháp ở đâu ? Phải tu tập như thế nào ?

Phóng tâm thức ra bên ngoài, chờ đợi từ bên ngoài là hoàn toàn đi ngược với Phật giáo và Đạo PhápĐạo Pháp hay Phật giáo là một « khoa học nội tâm », và đối tượng của nền khoa học đó là « tâm thức». Nổ lực thực hiện trực tiếp những kinh nghiệm do nền khoa học ấy đem đến tức là Tu tập.

Nhưng tu tập cái gì ? Tu tập có nghĩa là khắc phụcbiến cải và phát huy tâm thức. Tại sao lại phải khắc phục, biến cải và phát huy tâm thức ? Vì chính tâm thức là nguồn gốc của mọi xúc cảm bấn loạn, của mọi tư duy lệch lạc và méo mó, của mọi thứ khổ đau, nhưng đồng thời tâm thức cũng là cội nguồn của phúc hạnh, của mọi đức tính tích cực và cao cả nhất. Tu tập còn có nghĩa là làm cho tâm thứclắng xuống, quan sát, phân tích, tìm hiểu sự vận hành của tâm thức để ý thức được bản chất thật sự của nó. Cái bản chất ấy thường xuyên bị che lấp bởi vô minh, tức sự hiểu biết sai lạc về thực thể của vạn vậtTâm thức liên tục bị khống chế bởi lầm lẫn, bởi ảo giác, bởi bản năng thú tính và những xúc cảm đủ loại, giống như nó đang bị một chủ nhân ông điều khiển, và vị chủ nhân ông ấy chẳng qua chính là « cái ngã » hay « cái tôi » mà người ta thường lầm tưởng là một thứ gì trường tồn và bất biến.

Tu tập gồm có ba cấp bậc hay ba khía cạnh khác nhau : tu giới (shila), tu định (samatha) và tu tuệ(prajna) :

a) Tu giới còn gọi là tu hạnh, tức tự nguyện tuân theo một số giới luật trong mục đích đơn giản hoá sự sống của ta, giúp điều hoà và chủ động những hành vi của ta. Ngoài mục đích căn bả đó, tu giới còn hàm chứa những ý nghĩa cao cả hơn : hướng sự sống vào lý tưởng bất bạo động, tạo ra một cuộc sống hài hoà, an vui, hội nhập với những người chung quanh và tất cả chúng sinhTóm lại tu hạnh hay giữ giới là tôn trọng và yêu thương sự sống, gần gũi, hoà đồng và hội nhập với sự sống.

b) Tu định còn gọi là thiền định (samatha) là cách giúp ta sống thật sự và trọn vẹn, sống trực tiếp với những giây phút đang xảy ra với tâm thức và thân xác. Tu định giúp ta loại trừ những chướng ngại cản trở tâm thức, chẳng hạn như : xao lãnglo âu, đờ đẫn, bồn chồn, lo âusợ hãigiận dữ, hận thù…tóm lại là tránh những xúc cảm bấn loạn, tái lập sự an bình và vắng lặng cho tâm thức. Từ sự an bình và vắng lặng đó, tâm thức sẽ nhận ra bản thể đích thực của chính nó và tự nó sẽ làm gia tăng sức mạnhcảm nhận giúp cho ta suy luận và quán thấy thực tính của vạn vật chung quanh.

c) Phân tíchsuy luận đề quán thấy thực thể của của mọi vật và mọi biến cố gọi là tu tuệSự quánthấy tối thượng hay trí tuệ (prajna) là sự hiểu biết vượt lên trên những biểu hiện trong tâm thức, vì những biểu hiện trong tâm thức chỉ là những giác cảm như những giác cảm khác, không phải là sự hiểu biết. Tu tuệ để quán thấy bản chất vô thường của mọi hiện tượng, để nhận thức được thực tínhvô ngã của chúng, để hiểu rằng mọi hiện tượng, tức mọi vật thể và biến cố, trong đó có « cái ta », chúng không hàm chứa một sự hiện hữu nội tại hay tự tại nào cả.

Ba phép tu như vừa kể có thể xem như ba cấp bậc khác nhau, chẳng hạn như việc học vấn ở trường : từ tiểu học đến trung học, rồi đại học. Nhưng thật ra, ba cấp bậc tu tập có phần uyển chuyển hơn, do đó ta có thể thực hiện song hành với nhau. Dù sao cũng cần hiểu rằng : nếu không có một thân xác tinh khiết, một ngôn từ ngay thật, một tâm thức lương thiện thì không thể nào tu định được ; nếu không có một tâm thức an bình loại bỏ được mọi xúc cảm bấn loạn thì không thể nào phát huy được trí tuệ.

Sau hết, sự tu tập còn cần đến một sức mạnh để thúc đẩy và nuôi dưỡng. Nguồn sinh lực đem đến sức mạnh cần thiết cho việc tu tập chính là lòng từ bi. Từ bi luôn luôn là động lực cho từng cử chỉngôn từ và tư duy của ta, là sức sống thiêng liêng nhất và cần thiết nhất để liên kết, thống nhất mọi hành vi trong chủ đích đem đến kết quả cho việc tu tập.

Ba phép tu tập trên đây thật ra là một cách trình bày đơn giản hoá và tóm lược của Bát chính đạo(chính ngữchính nghiệpchính mệnh, chính tinh tấnchính niệmchính địnhchính tư duy và chính kiến) và Lục Ba-la-mật (bố thítrì giớinhẫn nhụctinh tấnthiền định và trí tuệ). Bản tóm lược dưới đây trình bày sự liên hệ giữa ba phép tu tập với Bát chính đạo và Lục Ba-la-mật :

CÁC PHÉP TU

BÁT CHÍNH ĐẠO

LỤC BA-LA-MẬT

Tu Giới
(shila)
Chính ngữ
Chính nghiệp
Chính mệnh
Bố thí
Trì giới
Nhẫn nhục
Tu Định
(samadhi)
Chính tinh tấn
Chính niệm
Chính định
Tinh tấn
Thiền định
Tu tuệ
(prajna)
Chính tư duy

Chính kiến

Trí tuệ

 

I. TU GIỚI (SHILA)

Giữ giới là cách điều hoà cuộc sống, tiết chế một số hành vi trên thân xác, kiểm soát ngôn từ và chủ động tư duy, làm phát lộ một phong thái an bình và thư giản. Kẻ khác khi nhìn vào một người tu giới sẽ thấy ngay cái phong cách thư tháithân thiện của người này. Giữ giới không phải là tìm cách đè nén xung năng, kềm hãm những thúc đẩy bản năng liên hệ đến thân xác và tâm thần, nhưng chính là phải tự đặt mình vào những xúc cảm tích cực, chẳng hạn như yêu thương, chăm lo đến kẻ khác, không làm thiệt hại đến bất cứ một chúng sinh nào.

Người xuất gia phải chọn một lối sống kỷ cương : độc thân, không lưu lại lâu dài ở một nơi nào cả, chọn sự đơn sơ và đạm bạc. Ngoài những khuôn phép đó còn có hàng trăm giới khác được ghi trong kinh sách mà người xuất gia phải noi theo, giới luật không phải để trói buộc họ nhưng để giúp họ tự giải thoát khỏi mọi ràng buộc của cuộc sống vướng mắc và bon chen của thế tục và nhất là tránh cho họ nhựng bấn loạn trong tâm thức. Về phần người thế tụcít nhất phải giữ năm giới căn bản : không sát sinhtrộm cắptà dâmnói dối, dùng những chất độc hại làm cho say sưa và nghiện ngập, đồng thời phải cố gắng giữ thêm các giới khác nữa.

Giữ giới là một sự tự nguyện, một hành vi tự nhiên, nhẽ nhàng và êm ả, nhưng đồng thời giữ giớicũng là một quyết tâm, đòi hỏi nhiều nghị lực để từ bỏ những thói quen độc hạiích kỷnham hiểm, chúng là nguồn gốc của những xúc cảm bấn loạn và khổ đau. Tu hạnh hay giữ giới là cách tập cho quen dần với lối sống đạo hạnh, bất bạo lực, ý thức được trách nhiệm đối với xã hội và môi sinh, biết trút bỏ những ràng buộc thường tình để chọn sự trong sáng và nhẹ nhàng cho tâm thức. Người biết giữ giới sẽ tạo ra một bầu không khí an bình chung quanh họ. Nhà hiền triết Ấn độ Ramana Maharshi (1879-1950) có nói một câu như sau : « Tự sửa đổi chính ta tức là sửa đổi cả thế giớiMặt trời chiếu sáng một cách tự nhiên. Nó không tìm cách sửa đổi ai cả. Vì nó rạng ngời, cho nên cả thế giới này chan hoà ánh sáng. Tự sửa đổi lấy ta là một phương cách đem đến ánh sáng cho thế giới này ». Như vậy, tự giữ giới không phải vì ta mà vì những người chung quanh, khi hiểu được như thế việc giữ giớisẽ trở thành một hành vi của từ bi, của yêu thương và rộng lượng, một hành vi vị thatự nhiên như hơi ta thở, như dòng máu đỏ đang tuần lưu trong huyết quản của ta.

Giữ giới gồm có hai khía cạnh, vừa thụ động lại vừa tích cực : thụ động là tránh không làm những việc độc hạitích cực là cố gắng thực thi những điều lợi ích. Có mười hành vi tiêu cực phải tránh và mười hành vi tích cực nên làm. Các hành vi ấy thuộc về thân xác, ngôn từ và tâm thức, và được phân bố như sau :

MƯỜI HÀNH VI TIÊU CỰC PHẢI TRÁNH 

THÂN XÁC

NGÔN TỪ

TÂM THỨC

  1. sát sinh
  2. trộm cắp
  3. có đời sống tình dục gây ra sự khổ đau (chẳng hạn tà dâm, hãm hiếp trẻ con, dùng uy quyền, tiền bạc, áp lực, lường gạt đề mua chuộc tình dục với kẻ khác…)
  1. nói dối
  2. dèm pha gây ra sự bất hoà và hận thù, nguyền rủa và ăn nói thô lỗ.
  3. ăn nói làm tổn thương kẻ khác, loan truyền những lời đồn đại, chỉ trích những người chung quanh.
  4. ăn nói tào lao vô bổ.
  1. dòm ngó của cải người khác
  2. có ý đồ nham hiểm
  3. nuôi dưỡng những quan điểmsai lầm (chẳng hạn như khôngchấp nhận quy luật nguyên nhân và hậu quả tức là nghiệp báo, hay là chấp nhận có linh hồn, tức sự hiện hữu của cái ngã hay cái tôi)

MƯỜI HÀNH VI TÍCH CỰC PHẢI THỰC THI 

THÂN XÁC

NGÔN TỪ

TÂM THỨC

  1. quý trọng sự sống
  2. bố thí
  3. có đời sống tình dục ý thức và trách nhiệm, thanh cao, loại bỏ mọi ích kỷ. Người xuất gia(tỳ kheo và tỳ kheo ni) phải sống tiết dục.
  1. ăn nói ngay thật
  2. nói những lời hoà giải, tạo ra mối giây thân thiện và ôn hoà với kẻ khác
  3. ăn nói êm ái và nhẹ nhàng
  4. tụng niệm kinh điển
  1. hân hoan trước sự an vui của kẻ khác
  2. vun xới lòng vị tha và nhân từ
  3. am hiểu tường tận và duy trìnhững quan điểm đúng đắn.

Thiền tông đưa ra mười giới luật có vài nét khác biệt nhỏ với những gì vừa trình bày trên đây :

THÂN XÁC

NGÔN TỪ

TÂM THỨC

  1. không sát sinh
  2. không trộm cắp

không có đời sống tình dụcgây ra khổ đau, không dùng, cũng không cho kẻ khác những chất độc hại (rượu, ma túy…)

  1. không nói dối
  2. không nêu lên những lỗi lầmcủa kẻ khác
  3. không tự khoe, cũng không hạ thấp kẻ khác
  4. không tiếc lời giảng huấn cho kẻ khác
  1. không được nổi giận
  2. không có ý gièm pha, chê bai Tam bảo (Phật, Đạo Pháp và Tăng đoàn)

Giữ giới bằng cách tôn trọng những hành vi cấm đoán tương đối dễ dàng, nhờ vào bẩm tính tự nhiênbiết phân biệt điều phải với điều trái, hoặc nhờ vào sự sợ hãi phải mang nghiệp tiêu cực vào thân. Tuy nhiêngiữ giới còn có một cấp bậc tinh tế hơn như thế khi ý thức được ý nghĩa sâu xa của các giới luật. Chẳng hạn ta không sát sinh, nhưng ta còn phải biết yêu thưong sự sống, thấy sự sống của muôn loài là hạnh phúc của ta. Không được dòm ngó của cải của kể khác, nhưng ta phải biết hân hoan với sự giàu sang của kể khác, với sự no ấm của kể khác, khi càng hân hoan với hạnh phúc của kẻ giàu sang, ta lại càng sót thương và giúp đỡ kẻ bần hàn.

Giữ giới bằng mười điều tích cực khó hơn vì phải cần đến lòng nhiệt tâm, vị tha và nhân ái, đòi hỏi ta phải ý thức và cố gắng trong từng hành vi của thân xác, trong từng lời nói và trong mỗi tư duy của ta. Thể dạng tinh tế của giới luật sẽ trực tiếp đưa đến những hành vi tích cực, chẳng hạn không sát sinhgiúp ta nhìn thấy cái hạnh phúc của muôn loài, không trộm cắp giúp ta biết yêu thương kẻ cơ hàn, không tà dâm để biết yêu thương kẻ nghèo đói phải bán thân cho kẻ khác, để không lường gạt và lợi dụng kẻ khờ khạo và yếu đuối. Thể dạng tinh tế của mười điều tích cực chính là lòng thương người, nhìn xa hơn nữa là tình yêu nhân loại, và cao hơn nữa chính là lòng từ bi vô biên đối với tất cả chúng sinh.

II. TU ĐỊNH (SAMATHA)

Khía cạnh thuật ngữ

Tu định tức là thiền định, đây là phép tu tập mà nhiều người hiểu sai hoặc rất mơ hồ. Vì thế cần phảiđịnh nghĩa cho rõ thế nào là thiền định. Nhiều người chưa bao giờ ngồi thiền nhưng lại muốn biết thiền cái là gì, nhiều người ngồi thiền nhưng muốn biết ngồi thiền để làm cái gì ? Ngay trên phương diệnthuật ngữ đã có nhiều chữ không chính xácthiền theo nghĩa rộng tiếng Phạn gọi là bhavana, có nghĩa là luyện tập cho quen dần. Nhưng người ta thường lầm lẫn và xem thiền đồng nghĩa với chữ dhyanadhyana có nghĩa là nhất tâm, tập trung tâm thức. Người ta còn lầm lẫn chữ thiền với chữ samatha,samatha có nghĩa là định, hay đúng hơn là bình lặng, thăng bằng trong tâm thức. Cũng xin chú ý là hai chữ dhyana và samatha cũng thường được dùng một cách lẫn lộn, nhưng đây lại là một vấn đề khác. Tóm lại tu định là luyện tập cho tâm thức được an bình và thăng bằng.

Chữ thiền được các ngôn ngữ Tây phương dịch là meditation, nếu hiểu theo nghĩa thông thường của chữ này là suy tư, suy ngẫm là sai. Nhưng nếu tìm hiểu gốc của chữ này trong tiếng La tinh thì ta sẽ thấy chữ meditation do chữ medeor mà ra, chữ medeor có nghĩa là chăm xóc, từ chữ medeor lại cho ra chữ medico, chữ này có nghĩa là chữa trị, nếu hiểu thiền hay tu định là sự chữa trị cho tâm thức thì không đến đổi sai lắm.